Siêu âm Doppler xuyên sọ

Siêu âm Doppler xuyên sọ là gì ?

Siêu âm Doppler xuyên sọ về nguyên lý cũng giống như siêu âm Doppler ngoài sọ là dựa trên nguyên lý các sóng siêu âm sẽ phản chiếu lại khi xuyên qua một vật thể chuyển động trong dòng máu (hồng cầu) và sẽ tạo nên sự thay đổi về tần số, thay đổi về tốc độ của hồng cầu chuyển động trong dòng máu. Các tín hiệu ghi được qua thăm dò vùng thái dương (temporal window), đầu dò đặt ở vị trí phía trên cung gò má cho biết tốc độ dòng máu của động mạch não giữa, động mạch cảnh trong đoạn trong sọ (khúc tận chỗ chuẩn bị chia nhánh thành động mạch não trước và động mạch não giữa), các động mạch não trước và động mạch não sau. Đầu dò đặt ở vị trí ổ mắt (orbital window) cho biết tốc độ dòng máu của động mạch cảnh trong đoạn siphon và động mạch mắt. Đầu dò đặt ở vị trí dưới chẩm (suboccipital window) ghi được tốc độ dòng máu của các động mạch sống và động mạch nền.

Các thông số của siêu âm Doppler xuyên sọ bao gồm:

  • Tốc độ dòng máu thì tâm thu (SFV).
  • Tốc độ dòng máu cuối thì tâm trương (DFV).
  • Tốc độ trung bình: MFV = (SFV + 2DFV)/3.
  • Chỉ số mạch: PI = (SFV – DFV)/MFV.
  • Chỉ số cản: RI= (SFV- DFV)/SFV.
  • Cần chú ý đến hướng dòng chảy, các đặc điểm của dạng sóng (dạng sóng thì tâm thu).

Nguyên lý của siêu âm Doppler xuyên sọ

Dùng siêu âm mạch với đầu dò có tần số thấp (1 – 2MHz) sóng siêu âm có thể xuyên vào sọ ở những nơi có xương sọ tương đối mỏng (cửa sổ xương), vùng thái dương là vùng dễ thăm dò nhất. Có 3 cửa sổ chính cần đặt đầu dò để thăm khám:

  • Vùng thái dương (transtemporal window): Đầu dò đặt ở vùng này sẽ xác định được các động mạch não như: động mạch não giữa, động mạch não trước (đoạn A1), động mạch thông trước, động mạch não sau (đoạn P1 & P2).
  • Vùng ổ mắt (Transorbital window): Đặt đầu dò ở vùng này để xác định động mạch mắt, động mạch cảnh trong đoạn siphon, động mạch thông sau.
  • Vùng dưới chẩm (Suboccipital window): Đặt đầu dò ở vùng này để xác định động mạch sống và động mạch nền.

Xem thêm: Siêu âm Doppler màu khi nào

Ứng dụng của siêu âm Doppler xuyên sọ

1. Nghiên cứu huyết động học trong não

  • thường được áp dụng để nghiên cứu đánh giá phản ứng huyết động học trong não ở các bệnh nhân bị hẹp hoặc tắc động mạch cảnh trong ở vùng cổ (Lindergaard và CS, 1985, Schneider và CS, 1988, Norris và CS, 1990). Tốc độ trung bình của động mạch não giữa do hẹp động mạch cảnh trong thường là giảm khi độ hẹp > 90%. Có thể đánh giá tuần hoàn bàng hệ qua động mạch thông trước và động mạch thông sau bằng thủ thuật ép động mạch cảnh gốc ở vùng cổ, sự thay đổi tốc độ dòng máu của động mạch não giữa thường là giảm do tăng CO2 hoặc khi tiêm tĩnh mạch thuốc lợi tiểu acetazolamide. TCD cho biết tình trạng đảo ngược tốc độ dòng máu của các động mạch não khi có tuần hoàn bàng hệ tăng lên (Bishop và CS,1986, Ringelstein và CS, 1988).
  • TCD cũng được áp dụng để đánh giá hướng đi và tốc độ của động mạch sống và động mạch nền khi có hội chứng đoạt máu của động mạch dưới đòn (subclavian steal syndrome) (Hennericin CS, 1988; Bonstein và CS, 1988).
  • TCD có thể phát hiện hẹp thân động mạch não giữa khoảng 60 – 90% tuy nhiên nếu có tuần hoàn bàng hệ thì rất khó để phân biệt tăng tốc độ dòng máu là do hẹp hay do tuần hoàn bàng hệ (Lindegard và CS, 1986, Bishop và CS ,1986, Hennerici và CS ,1986; Mattle và CS, 1988; de Bray và CS, 1988).

2. Phát hiện và theo dõi tình trạng co thắt mạch sau chảy máu dưới nhện

  • Co thắt mạch não là biến chứng nguy hiểm của chảy máu dưới nhện, tỉ lệ là 30-50%, nếu không phát hiện sớm và xử trí kịp thời bệnh nhân có thể tử vong. Chụp động mạch não là phương pháp chuẩn để đánh giá co thắt mạch não. Tuy nhiên đây là phương pháp nguy hại (gây chảy máu) và không thể tiến hành nhiều lần để theo dõi và điều trị co thắt mạch sau chảy máu dưới nhện.
  • Để giải quyết nhược điểm trên, TCD có thể theo dõi sự tiến triển của co thắt mạch não sau chảy máu dưới nhện. Ngày nay, TCD đã trở thành một phương pháp phổ biến và hữu ích để theo dõi hậu quả của co thắt mạch não do chảy máu dưới nhện (Aaslid và CS, 1984, Hardens, 1986, Aslid và CS, 1986). Với chảy máu dưới nhện, tốc độ dòng máu sẽ tăng lên ở các động mạch nền não từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 10 sau chảy máu và đỉnh cao là từ ngày 11 đến ngày 21. Tốc độ ghi được ở động mạch não giữa > 200cm/s có giá trị dự báo co thắt mạch ở mức độ nặng. Điều này có giá trị quan trọng cho thầy thuốc lâm sàng để quyết định can thiệp bằng phẫu thuật hoặc sử dụng thuốc ức chế kênh calci như nimodipine (Seiler và CS, 1988; Sloan, 1989).
Bác sỹ tiến hành siêu âm Doppler xuyên sọ cho bệnh nhân
Bác sỹ tiến hành siêu âm Doppler xuyên sọ cho bệnh nhân

3. Thông động tĩnh mạch não (AVMs)

AVMs là sự phát triển bất thường của mạch máu. TCD cho phép xác định các AVMs kích thước trung bình và lớn (Harlens, 1986, Hennerici và CS, 1986). Các mạch nuôi trong AVMs mang đặc điểm là tăng thể tích, tăng tốc độ dòng máu và giảm sức cản. Tốc độ dòng chảy tăng và chỉ số mạch giảm xuống ghi được ở các mạch nuôi của AVMs. Sử dụng các test gây tăng thông khí sẽ nâng cao hiệu quả chẩn đoán. TCD thường được ứng dụng để đánh giá hiệu quả của việc gây tắc mạch chọn lọc để điều trị AVMs, TCD cũng là phương pháp thông dụng để theo dõi AVMs.

4. Tăng áp lực trong sọ (ICP)

Áp lực tưới máu não được xác định bởi sự khác nhau giữa huyết áp và áp lực trong sọ. Tốc độ dòng máu não và hình dạng sóng TCD rất nhạy cảm đối với sự thay đổi cấp tính của ICP. TCD sử dụng như là phương pháp không nguy hại để theo dõi tốc độ của các mạch não ở các bệnh nhân bị ICP (Krajewski và CS, 1988, Hassler và CS, 1988). Khi ICP tăng, hình dạng sóng TCD trở nên cao và nhọn phản ánh sự giảm áp lực tưới máu não.

5. Chết não

Do có sự tiến bộ của khoa học y học, người ta có thể duy trì sự toàn vẹn của hệ thống tim – phổi ở các bệnh nhân mất hết các chức năng của não. Kể từ đó đến nay, chẩn đoán chết não trở thành vấn đề y học, luật pháp và xã hội cũng như liên quan đến ghép thận và ghép các cơ quan khác.

Xác định chết não dựa vào 3 thông số.

  • Tiêu chuẩn lâm sàng.
  • Tiêu chuẩn điện não đồ.
  • Tiêu chuẩn chụp động mạch.

Ngày nay, TCD đã thay thế cho chụp động mạch trong nghiên cứu chết não. Hình ảnh TCD trong chết não ghi được biểu hiện ở 2 dạng:

  • Đảo ngược dòng chảy ở thì tâm trương gây ra dạng sóng đi đi lại lại
  • Tốc độ dòng chảy giảm hoặc ngừng toàn bộ dòng chảy. Tốc độ 10cm/s thường biểu hiện tình trạng chết não.

6. Theo dõi trong phẫu thuật

TCD là kỹ thuật không gây nguy hại và dễ thực hiện để theo dõi tuần hoàn não trong các phẫu thuật ở tim và động mạch cảnh.

7. Migraine

Trong bệnh đau đầu do nguyên nhân mạch máu như bệnh Migraine, TCD thường thấy tăng tốc độ dòng chảy và giảm ứng vận mạch. Những nghiên cứu trên các bệnh nhân có bệnh Migraine thường phát hiện thấy tăng tốc độ dòng chảy, thậm chí ngay cả khi bệnh nhân không có biểu hiện nhức đầu (Thie và CS, 1988). TCD còn cho phép đánh giá đáp ứng của mạch máu đối với các thuốc điều trị bệnh Migraine. Ứng dụng TCD trong chẩn đoán và điều trị Migraine thì vẫn còn phải tiếp tục nghiên cứu.

8. Phát hiện tắc mạch não (Cerebral emboli)

Dựa vào kỹ thuật TCD có thể phát hiện được các trường hợp tắc mạch não trong khi mổ tim – phổi, khi đang mổ khai thông động mạch cảnh (Carotid endarterectomy) do hẹp động mạch cảnh trong. Điều này rất quan trọng để quyết định cho bệnh nhân có dùng thuốc chống đông hay không.

Sử dụng máy siêu âm nào để siêu âm Doppler xuyên sọ.

Các loại máy siêu âm Doppler như máy siêu âm Doppler màu xách tay hoặc các dòng máy siêu âm màu 4D nhưng để sử dụng chức năng siêu âm Doppler xuyên sọ thì tối ưu nhất là sử dụng đầu dò tìm xuyên sọ trên các dòng máy siêu âm màu 4D.

Để được tư vấn thêm vui lòng liên hệ:

Công ty TNHH thương mại và phát triển công nghệ Thành An

VPĐD Hà Nội:Tầng 5, 188 Trường Chinh,

Khương Thượng , Đống Đa, Hà Nội

ĐT: 04.6278.4532 / Fax: 04.6278.4611

Email: info@thanhanmedical.com.vn

VPĐD Hồ Chí MinhLầu 10, Tòa nhà Lutaco Tower,

173A Nguyễn Văn Trỗi, P.11,

Q. Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh

ĐT: 08 3991 3228 / Fax: 08 3991 3229

Ý kiến bạn đọc (0)

© 2018 thanhanmed.com. Thiết kế Website bởi Thành An Medical.